Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho thấy, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2023 là 61,77 tỷ USD, tăng 4,4%, tương ứng tăng 2,61 tỷ USD so với tháng 9/2023. Trong đó, xuất khẩu là 32,25 tỷ USD, tăng 5,1%, tương ứng tăng 1,57 tỷ USD; nhập khẩu là 29,52 tỷ USD, tăng 3,6%, tương ứng tăng 1,04 tỷ USD.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu 10 tháng2023 là 558,33 tỷ USD, giảm 9,6%, tương ứng giảm 59,11 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu là 291,46 tỷ USD, giảm 7% (tương ứng giảm 22,04 tỷ USD); nhập khẩu là 266,87 tỷ USD, giảm 12,2% (tương ứng giảm 37,07 tỷ USD).

Trong tháng 10/2023, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 2,73 tỷ USD. Tính trong 10 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước đã xuất siêu 24,59 tỷ USD.

Tổng cục Hải quan ghi nhận xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước tháng 10/2023 đạt 8,88 tỷ USD, tăng 9,7% so với tháng trước. Trong khi đó, xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI là 23,37 tỷ USD, chỉ tăng 3,5%. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng tăng 2,1% (đạt 18,88 tỷ USD), thấp hơn so với tốc độ tăng nhập khẩu 6,5% của khối doanh nghiệp trong nước.

Trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng 2023 đạt 383,95 tỷ USD, giảm 10,5% (tương ứng giảm 45,15 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 212,42 tỷ USD, giảm 8,1% tương ứng giảm 18,78 tỷ USD và trị giá nhập khẩu là 171,53 tỷ USD, giảm 13,3% tương ứng giảm 26,37 tỷ USD so với 10 tháng 2022.

Trong khi đó, xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước giảm 7,4% so với cùng kỳ, với trị giá là 174,38 tỷ USD (tương ứng giảm 13,96 tỷ USD). Xuất khẩu của khối doanh nghiệp này đạt 79,04 tỷ USD, giảm 4%  tương ứng giảm gần 3,26 tỷ USD và nhập khẩu là 95,33  tỷ USD, giảm 10,1% tương ứng giảm 10,7 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước.

Xuất nhập khẩu hàng hóa trong 10 tháng của Việt Nam sang châu Á là 363,77 tỷ USD, chiếm tỷ trọng lớn nhất 65,2% trong tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và giảm 9% (tương ứng giảm 35,89 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là châu Mỹ với 113,19 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 20,3%, giảm 13,8% (tương ứng giảm 18,1 tỷ USD); châu Âu là 60,76 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 10,9%, giảm 6% (tương ứng giảm 3,88 tỷ USD); châu Đại Dương với 13,01 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 2,3%, giảm 12,9% (tương ứng giảm 1,93 tỷ USD); châu Phi với 7,59 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 1,4%, tăng 9,2% (tương ứng tăng 641 triệu USD) so với cùng kỳ năm trước.

Riêng về xuất khẩu, Tổng cục Hải quan cho biết có tới 8 nhóm hàng trị giá xuất khẩu giảm trên 500 triệu USD so với cùng kỳ năm trước. Đứng đầu là nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện giảm 6,24 tỷ USD; tiếp theo là hàng dệt may giảm 4,08 tỷ USD; giày dép các loại giảm 3,68 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng giảm 2,82 tỷ USD; gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 2,61 tỷ USD; hàng thủy sản giảm 1,94 tỷ USD; hóa chất giảm 686 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép giảm 611 triệu USD.

Bên cạnh đó, xuất khẩu một số nhóm hàng trong 10 tháng 2023 vẫn đạt mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, hàng rau quả tăng 2,08 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 1,66 tỷ USD; gạo tăng hơn 1 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 529 triệu USD và hạt điều tăng 405 triệu USD.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *